Tác Giả : Ueda Akinari (1734-1809)
Lời Người Dịch :
Nguyên tác Kikka no Chigiri ( lời ước hẹn gặp lại nhau giữa mùa hoa cúc) của Ueda Akinari (Thượng Điền Thu Thành) đã in trong Ugetsu Monogatari (Vũ Nguyệt Vật Ngữ) hay Truyện Đêm Mưa Trăng Lu. Theo lời tựa, tập truyện được viết xong vào một đêm tháng ba trời mưa trăng lu năm Minh Hòa thứ 5 (1768), lúc tác giả 34 tuổi. Bản đầu tiên in năm An Vĩnh thứ 5 (1776). Người dịch dùng bản được Asano Sampei hiệu chú và nhà xuất bản Shinchô phát hành năm 1979.
Sinh năm 1734 trong một xóm yên hoa ở Osaka (1) , Ueda là đứa con vô thừa nhận của một cô gái làng chơi. Lên bốn, mẹ bỏ không nuôi, được một thương gia giàu có và tốt bụng nhưng không con trai, đem về cho ăn học. Ông bị lên đậu ngặt nghèo, tuy thoát chết nhưng liệt hết mấy ngón tay (nên một trong những bút hiệu của ông là Zenshi Kijin (2) nghĩa là Quái Nhân Cụt Ngón). Sau khi sống một quãng đời thanh niên đồi trụy, ông sớm thức tỉnh trở lại nối nghiệp cha nuôi buôn dầu và buôn giấy nhưng không mấy chí thú vì vẫn mang giòng máu nghệ sĩ. Năm 1771, sau trận hỏa tai làm tiêu tan sản nghiệp, ông chuyển sang nghề đông y và viết văn. Cuối đời (1793), về sống ở Kyoto và mất năm 1809, trong nghèo túng, vợ chết, không con cái và hầu như mù.
Tên tuổi Ueda Akinari gắn liền với văn xuôi Nhật Bản cận đại. Ảnh hưởng của ông rất sâu đậm đối với Kyokutei Bakin (1767-1848), tiểu thuyết gia số một thời Edo và những thế hệ đi sau (3). Phần ông thì chịu ảnh hưởng của các tiểu thuyết gia đời Minh như La Quán Trung (4), Phùng Mộng Long (5) ... Riêng Hẹn Mùa Hoa Cúc đã mượn đề tài truyện " Phạm Cự Khanh Kê Thực Sinh Tử Giao " (6) sưu tập trong tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc của họ Phùng, Cổ Kim Tiểu Thuyết, quyển thứ 16. Akinari thích viết truyện quái đản vì nó là loại văn phổ biến nhất trong quần chúng đương thời nhưng có thể một phần do bản chất thần bí của chính ông. Suốt đời, ông hay viếng đền thần chồn Inari vì tin thần đã cứu mạng lúc mình lâm bạo bệnh.
Giáo sư René Sieffert đã dịch truyện nầy sang Pháp văn (xem Le Rendez-vous aux Chrysanthèmes trong Contes de pluie et de lune, Unesco, Folio, Paris, 1956). Xin để ý lời văn trong truyện nầy tuy có dụng công nhưng chung qui rất thô phác, cổ kính, ngay khi đã được chuyển ra kim văn. Niên hiệu An Vĩnh (An-ei, 1772-1781) bên Nhật, lúc tác phẩm ra đời, tương đương với thời Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc phù Lê diệt Trịnh ở nước ta.
***
Liễu
mùa xuân xanh mơn mởn nhưng xin đừng trồng liễu trong vườn nhà. Cũng
như chớ kết giao với hạng người khinh bạc. Dương liễu xum xuê đấy nhưng
không chịu nổi trận gió đầu thu, khác nào người khinh bạc dễ nhạt mối
giao tình. Liễu kia còn thắm lại lúc xuân về chứ người khinh bạc một đi
không trở lại.
Một hôm, Hasebe Samon đến thăm người bạn tên Mỗ cùng thôn, trong lúc
hai bên đang cao hứng bàn chuyện xưa nay bỗng nghe cách vách có tiếng
rên rỉ bi ai. Samon bèn hỏi thăm.
Chủ nhà trả lời : "Người nầy xem ra gốc gác ở miền Tây, nhân không bắt
kịp bạn đồng hành để lỡ độ đường, mới xin tôi cho tá túc qua đêm. Tôi
thấy ông ta tướng mạo đường đường như con nhà vũ sĩ nên nhận lời. Chẳng
ngờ từ đêm hôm đó bị lên sốt nặng, nằm li bì, đáng thương lắm. Đã ba
bốn bữa rồi cứ như thế, tôi lại chẳng biết nhà cửa quê quán ông ta,
nghĩ mình thật vụng tính. Bây giờ có hơi hối".
Samon nghe qua mới bảo : " Thế thì tội nghiệp quá. Bác có lo lắng cũng đúng. Mang bệnh vào thân giữa đồng đất nước người không ai quen biết thì cơ khổ. Thôi để tôi khám xem sao " . Nói xong, đã thấy chủ nhà lên tiếng : " Tôi nghe bệnh dịch hay lây, trẻ con trong nhà còn không cho bước vào phòng đó. Đừng mang họa vào thân " .
Samon mới cười : "Sống chết tại trời, ai truyền bệnh được. Thiên hạ
không biết cứ nghe, mình tin theo làm gì!" . Rồi đẩy cửa đi vào. Samon
thấy người khách đang nằm, đúng như nhà chủ nói, có phong thái khác
phàm nhưng đang nhuốm bệnh nặng nên mặt mày vàng võ, người gầy đen, co
quắp dưới một mảnh chăn cũ.
Người ấy nhìn Samon với vẻ mừng rỡ, miệng nói "Làm ơn cho xin miếng
nước nóng". Samon ngồi sát con bệnh và bảo "Xin tôn ông chớ lo, thế nào
tôi cũng chữa cho khỏi". Thật bỏ rơi cũng chẳng nỡ, mới xin phép nhà
chủ khám bệnh xong, tự mình cho toa, bốc, sắc thuốc, lại đút cháo, lo
lắng trông nom đủ điều chẳng khác ruột thịt.
Người vũ sĩ thấy Samon tận tụy, cảm động ứa nước mắt thưa : "Ông đối xử
tốt như thế đến cả kẻ trôi dạt nầy sao ? Tôi có chết cũng chẳng báo đáp
nổi tình thâm". Samon mới can : "Tôn ông thốt chi những lời bi quan
thái quá. Phàm bệnh dịch tất phải chịu đựng ít hôm. Tai qua nạn khỏi
còn sống dai nữa đấy. Tôi sẽ qua đây trông nom ông mỗi ngày".
Đúng như lời hứa chân tình, Samon săn sóc thật tận tâm nên dần dần,
người vũ sĩ cảm thấy bệnh thuyên giảm, thân thể nhẹ nhõm hẳn, nồng
nhiệt tỏ lòng cảm tạ. Vì kính mến công ơn, người ấy mới hỏi thăm gia
cảnh Samon và thuật cho nghe gốc gác của mình:
"Tôi tên Akana Sôemon, sinh trưởng ở vùng Matsue xứ Izumo, vốn thông hiểu chút binh pháp nên được ngài Enya Kamon-no-suke, quan trấn thủ thành Tomita, tôn làm thầy. Nhân có việc cơ mật, ngài Enya mới gửi tôi đi gặp Sasaki Ujitsuna ở Ômi. Lúc đang ở công quán dưới đó chợt nghe tin chức trấn thủ cũ là Amako Tsunehisa kéo bọn Yamanaka về hùa, nhằm đêm giao thừa bất ngờ leo vào chiếm thành, giết hại chủ tôi. Nguyên lai, vùng Izumo vẫn là đất phong của họ Sasaki, còn ngài Enya phụ tá việc cai trị. Tôi mới khuyên Sasaki Ujitsuna "Xin hãy giúp bọn Mizawa và Mitoya tiễu trừ bè đảng Amako Tsunehisa hộ" . Khổ nỗi Ujitsuna bề ngoài xem ra dũng mãnh, bên trong chỉ là kẻ khiếp nhược ngu tối. Tôi bắt buộc nán lại Ômi. Thấy mình ở đó lâu cũng chẳng được việc, tôi mới lẻn trốn về xứ, ai ngờ giữa đường lâm trọng bệnh, để nhọc lòng ông, thật thân này may có phước phần. Trong nửa đời còn lại, nhất định có ngày báo đáp”.
Samon gạt đi : "Tôi giúp tôn ông là vì tình người, thấy kẻ hoạn nạn làm ngơ không đành, đâu thể nào nhận lời cảm ơn quá nồng hậu của ông. Ông cứ nán lại nghỉ ngơi cho khoẻ đã". Câu nói chí tình như thêm sức nên lần hồi con bệnh hoàn toàn bình phục.
Samon có cảm tưởng mình đã tìm ra người tri kỷ. Những lúc ngày đêm trò chuyện, nhân bàn đến kinh điển bách gia chư tử, cách đặt vấn đề cũng như lối giải đáp của Akana chứng tỏ ông ta không hề thiếu kiến thức. Đặc biệt khách lại giỏi binh thư, mỗi lần bàn bạc, hai bên đều tâm đầu ý hợp, rất ư vui thoả nên cuối cùng, họ ước với nhau kết nghĩa anh em. Akana lớn hơn năm tuổi, nhận lễ làm anh, xong hướng về Samon nói : "Cha mẹ ngu huynh mất đã lâu, mẹ già của em tức là mẹ anh. Vậy anh xin phép đến vái chào để mẹ nhận tấm lòng thành của anh xin được làm con".
Samon khôn xiết vui mừng đáp : "Mẹ hằng tội nghiệp em một thân một
mình. Nếu được như huynh trưởng nói, chắc mẹ vui mà tăng tuổi thọ" . Họ
đưa nhau về nhà, bà mẹ mừng rỡ tiếp đón : "Thằng con của mẹ bất tài,
lại bỏ công đi học những chuyện chẳng hợp thời, đường mây lỡ bước. Chỉ
xin anh chớ ghét bỏ mà dạy dỗ nó hộ ta" . Akana vui mừng cúi lạy : "Đại
trượng phu xem trọng nghĩa khí, chứ coi công danh phú quí có ra chi.
Nay tôi được mẹ yêu, em kính, không dám trông mong gì hơn" , rồi ở trọ
lại nhà đó ít lâu.
Hoa trên non mới nở hôm nào nay đã bay tả tơi, gió hây hẩy lăn tăn ngọn sóng, không nói cũng biết trời đã vào hè. Akana mới thưa với hai mẹ con : "Tôi trốn khỏi Ômi cũng vì có chủ đích về Izumo thăm dò động tĩnh. Tôi sẽ xuống đó ít lâu nhưng cố gắng chóng quay lại đây và dù rau cháo qua ngày cũng cố gắng báo đáp ân tình. Vậy xin từ biệt" . Samon mới hỏi: "Thế huynh trưởng đã định ngày nào trở lại đây chưa ?" . Akana bảo : "Ngày tháng như tên bắn, chắc nội mùa thu này thôi, em ạ" . Samon lại hỏi : "Có thể nào hứa trước với em ngày anh về được không ?". Akana nói : "Anh định về giữa tiết trùng dương, có được không?"
Samon
thưa : "Huynh trưởng đừng sai hẹn nhé. Em sẽ ngâm sẵn một cành hoa cúc
trong vò rượu nhạt để đợi anh". Sau khi đã thành thực ước hẹn với nhau
như thế, Akana mới sang miền Tây.
Bóng câu thấm thoát, những nhánh thù du dưới thấp đã sẫm mầu, chen với
cúc dại huy hoàng vàng lưng dậu, tháng chín đến rồi. Ngày mồng chín,
Samon dậy sớm hơn thường nhật, quét chiếu nhà cỏ cho sạch, chưng trong
lọ con hai ba nhành cúc vàng cúc trắng, vét cạn hầu bao bày cơm rượu.
Bà mẹ bảo : "Mẹ nghe Yakumo ở tận cùng xứ San-in bên kia núi cách đây
đến cả trăm dặm đường, anh con làm sao về cho kịp. Vậy chờ khi nào anh
ấy đến nơi hãy sửa soạn!". Samon thưa : "Anh con là người trọng chữ
tín, thế nào cũng giữ lời hứa. Nếu đợi anh ấy về mới hấp tấp bày tiệc
thì thật đáng thẹn" . Bèn mua rượu ngon, nấu cá tươi để sẵn trong bếp.
Ngày hôm đó trời quang đãng, nhìn ngút mắt không lấy một gợn mây. Bọn
lữ khách gối đất màn sương nhập bọn trên đường kháo với nhau "Ai thượng
kinh hôm nay nhằm ngày tốt đấy. Trời quang mây tạnh là điềm buôn bán có
lời ".
Một người vũ sĩ xấp xỉ năm mươi nói với một anh trai trẻ khoảng hai
mươi ăn mặc cùng một kiểu : "Trời đẹp thế nầy, nếu từ Akashi mướn được
thuyền mà rong buồm đi sớm thì chiều chắc kịp qua đêm ở cửa Ushimado.
Chỉ vì bọn trẻ ngại sóng gió, mình đành chịu tốn kém". Anh kia vừa đi,
vừa vuốt giận ông bạn : "Lúc lệnh bề trên nhà ta lên kinh, từ đảo
Shôzujima qua bến Murozu, ngài cũng gần chết khiếp. Cứ theo lời bọn tùy
tùng học lại, vùng biển này đáng sợ lắm đấy. Thôi đừng tức tối nữa. Để
sang bến Uogahashi, tôi mời bác tô mì" .
Một gã dắt ngựa đang phát cáu với con vật : "Cái con chết chương nầy,
sao đi mà không chịu chong mắt ra cho ông nhờ!" , nói xong sắp ngay
ngắn bọc hàng trên yên rồi ẩy ngựa bước tới. Quá ngọ vẫn chưa thấy bóng
Akana. Rồi mặt trời ngả sang đoài, khách bộ hành ai nấy đều rảo bước
tìm chỗ qua đêm. Mỗi Samon mắt vẫn đăm đăm nhìn về xa xôi, ruột gan
nóng như nung.
Bà mẹ gọi Samon bảo : "Chỉ mong lòng người không thay đổi như trời thu
chứ hoa cúc đâu chỉ thắm mỗi hôm nay. Như anh con giữ chữ tín quay về
thì dù phải chờ đến khi mưa lạnh báo thu tàn, con cũng chẳng có gì để
trách anh. Thôi vào nhà nghỉ đi, mai hẵng đợi". Samon không dám trái ý,
mới cùng lui vào trong, mời mẹ đi ngủ trước, rồi ra ngoài cửa nhìn lên,
thấy bên sông Ngân là vầng trăng bạc soi mỗi bóng mình, lòng lại thêm
buồn. Chỉ nghe tiếng sủa của con chó giữ nhà và tiếng sóng vỗ ngoài bến
vọng tới. Đến khi trăng lặn bên sườn núi, đang nghĩ mình quên chưa đóng
cổng, bất chợt nhìn lên thì thấy trong khoảng đêm đen có một bóng người
lay động theo làn gió lại gần, nhìn mãi mới biết chính là Akana Sôemon.
Samon mừng rỡ nói như reo : "Tiểu đệ đợi từ sáng sớm đến giờ. Anh giữ
lời ước về được thật không gì vui hơn. Mời anh vào trong cho!" . Nghe
nói thế, Akana chỉ gật đầu mà không ừ hử. Samon đi trước dẫn đường, mời
Akana ngồi vào chỗ dưới song cửa sổ phía nam, xong thưa : "Huynh trưởng
chậm về, mẹ già không chờ được, e rằng anh mai mới đến nơi nên đã vào
trong nghỉ rồi. Để em đánh thức mẹ nhé!" . Akana lắc đầu một lần nữa
ngăn Samon lại nhưng vẫn chẳng nói chẳng rằng. Samon mới thưa : “Anh
lặn lội đêm hôm, hẳn nhọc mệt vì đường sá. Vậy xin anh uống chén rượu
mừng cho lại sức" . Bèn hâm rượu, bày biện mấy món đưa cay.
Akana nâng tay áo lên che mặt, làm như ngán mùi tanh của thức ăn. "Cơm
nầy do chính tay em tuốt lúa giã gạo. Tuy chẳng có gì nhưng là chút
lòng thành. Xơi một miếng cho em vui" . Akana vẫn không trả lời, chỉ
thở dài buồn bã, mãi lâu mới lên tiếng : "Hiền đệ tiếp đón ân cần, anh
từ chối sao đặng. Tuy thế, anh không thể lừa dối em. Cho anh thưa thật
và tuyệt đối đừng ngạc nhiên. Anh không còn là người trên dương thế nữa
mà chỉ là một cô hồn vất vưởng hiện ra trong thân xác vay mượn nầy thôi"
Samon hoảng kinh. "Huynh trưởng nói chuyện gì lạ lùng thế nhỉ. Em không thể tin được" Akana mới bảo :
"Khi
anh từ biệt hiền đệ về đến quê nhà rồi, thấy người nước sợ oai lũ giặc
Tsunehisa, đều quên ơn ngài Enya mà ngả theo chúng, Anh liền đến thăm
Akana Tanji, người anh em họ trong thành Tomita. Hắn ta giải bày điều
lợi hại và đưa anh đến gặp Tsunehisa. Anh bèn nhân cơ hội ấy dò xét
quân tình. Quan sát thật kỹ mới biết tên Tsunehisa sức địch muôn người,
lại khéo rèn luyện sĩ tốt. Tuy nhiên, về mặt mưu trí thì vì tâm địa đa
nghi như chồn cáo nên hắn không có một ai gọi là gan ruột nanh vuốt.
Ở lâu không tiện, anh mượn cớ ước hẹn với hiền đệ phải về cho kịp tiết trùng dương để xin kiếu. Chẳng ngờ Tsunehisa đâm ra oán ghét và hạ lệnh Tanji giữ riệt anh tận đến bữa nay, không cho lọt khỏi vòng thành. Anh sợ sai hẹn thì hiền đệ chẳng còn coi anh là người tín nghĩa nữa. Hết sức khổ tâm mà không biết tính sao. Cổ nhân có câu : Con người không ai đi nổi nghìn dặm mỗi ngày nhưng hồn phách thì thừa sức. Nhớ lời dạy đầy đạo nghĩa ấy, anh tự đâm cổ chết để đêm nay hồn nương theo luồng gió lạnh cõi âm về cho kịp lời ước hẹn gặp nhau giữa mùa hoa cúc. Hiền đệ đã thấu lòng anh chưa?" .
Nói xong nước mắt ràn rụa : "Từ đây, chúng mình sẽ mãi mãi chia tay.
Mong em thay anh chăm sóc mẹ già". Mới thấy vừa đứng dậy khỏi chiếu
tiệc, thoắt đã biến mất.
Samon lật đật chận lại thì ngón âm phong đã che mắt tối sầm, không nhận
ra phương hướng nữa. Anh ta trượt chân bổ sấp, rồi cứ thế mà khóc lớn.
Bà mẹ choàng tỉnh, đứng dậy nhìn ra chỗ con ngã thì thấy anh ta đang
nằm giữa đống chén bát, bình rượu, đĩa cá, trên chiếu tiệc.
Bà mới đến bên cạnh nâng dậy, hỏi "Gì thế hở con?" thì chỉ thấy Samon
khóc vùi, nấc nghẹn chẳng thốt được câu nào. Bà mẹ bảo : "Nếu mày buồn
khổ vì anh mày lỡ hẹn thì ngày mai, lúc nó đến hãy nói cho nó biết. Cứ
khóc thế nầy có phải ngốc không nào!" . Trước lời quở trách nghiêm
khắc, Samon vội phân trần : "Đêm hôm nay, huynh trưởng nhớ lời hẹn cúc
hoa đã về đến nơi đấy chứ. Con đem rượu và thức nhắm ra mời, anh ấy hai
ba bận từ chối và kể sự tình xảy ra như thế nào, vì không muốn bội ước
nên đã tự đâm cổ để linh hồn vượt trăm dặm tìm về" . Nói xong, anh ấy
biến mất. Chính vì vậy con đã làm kinh động giấc ngủ của mẹ. Cúi xin mẹ
tha thứ!" .
Thấy nước mắt con lã chã, bà mẹ mới bảo : "Người trong ngục tối mong
được cởi gông. Kẻ đang khát chỉ ước có miếng nước mát mà nhấp. Chắc con
đang mang tâm trạng ấy. Hãy lấy lại bình tĩnh đi!" . Nghe thế, Samon
lắc đầu : "Không phải mộng mị gì đâu mẹ. Huynh trưởng con có về thật
đấy!" . Nói xong lại khóc đến quị xuống. Lúc ấy bà mẹ mới hết nghi ngờ
và cũng oà theo. Đêm hôm ấy cả hai mẹ con cùng khóc than không dứt.
Rạng ngày, Samon dập đầu thưa với mẹ : "Con từ thuở nhỏ theo đòi nghiên
bút nhưng ở chốn làng nước chưa tỏ điều trung nghĩa, trong nhà không
tròn đạo hiếu kính, sống cũng như thừa. Nay anh Akana đã hủy tính mạng
để giữ lời hẹn ước thì đứa em như con cũng phải lên đường đi Izumo nhặt
nắm xương tàn của anh cho tròn chữ tín. Cho phép con đi một thời gian
và nhớ bảo trọng mình vàng" . Bà mẹ lại nói : "Con có đi cũng cố về sơm
sớm kẻo mẹ già tựa cửa. Đừng để lần từ biệt hôm nay thành ra cuộc chia
ly vĩnh viễn."
Samon mới thưa : "Kiếp người bèo bọt, giữa ban mai nào biết được buổi
chiều, nhưng con đi xong việc sẽ chóng quay về". Nói xong lau nước mắt
ra cửa, tạt qua bên Sayo nhờ chăm sóc mẹ già chu đáo, xong phăng phăng
xuống Izumo. Trên đường đói chẳng buồn ăn, rét quên choàng áo, giữa
giấc mơ cũng gào khóc, chỉ có mười hôm đã đến bên chân thành Tomita.
Việc trước tiên là tìm tới ngay phủ đệ của Akana Tanji, xưng tên xin
gặp. Tanji bước ra nghênh tiếp, ngạc nhiên hỏi gặn : "Nếu không có tin
nhạn đưa thư thì làm sao ông biết chóng vánh như thế" .
Samon
trả lời : "Kẻ sĩ không luận bàn chuyện phú quí hay là tình huống thế
nào mà chỉ lo giữ điều tín nghĩa. Nay huynh trưởng Sôemon trọng lời thề
thốt, chẳng tiếc thân, hồn thu đường đất trăm dặm tìm về cho nên tôi
mới ngày đêm không nghỉ mà tới nơi đây. Tôi chỉ xin đem chuyện sách vở
để hỏi một điều, mong ngài giải đáp cho. Xưa khi Công Thúc Tọa (8)
nước Ngụy nằm trên giường bệnh, vua Ngụy đến thăm, thân cầm tay hỏi :
"Nhỡ mai khanh có mệnh hệ nào thì lấy ai làm người chống đỡ xã tắc" .
Tọa mới tâu : "Thương Ưởng tuy tuổi trẻ nhưng là bậc kỳ tài. Vương nếu
không dùng hắn thì hãy giết đi chứ đừng để hắn ra ngoài cõi. Nếu cho
hắn đi nước khác, chắc chắn mai sau sẽ rước họa" .
Thực
bụng tâu như thế xong, Tọa mới ngầm kêu Thương Ưởng vào bảo nhỏ: "Ta đã
tiến cử ngươi nhưng nhà vua có ý không dùng. Ta lại bảo đã không dùng
ngươi thì phải giết. Đó là đạo trước lo cho vua sau mới lo tới bầy tôi.
Vậy ngươi nên mau mau trốn qua nước khác kẻo bị hại". Câu chuyện nói
trên nếu đem so với tình cảnh giữa ngài và Sôemon, hỏi khác nhau thế
nào?" Tanji chỉ biết cúi gầm, không có lấy một câu.
Samon mới xích người lại gần hơn : "Anh Sôemon của tôi không chịu khuất
thân thờ Amako vì nghĩ tình cựu giao với ngài Enya. Còn ngài bỏ chủ cũ
Enya đi hàng Amako là không làm tròn đạo nghĩa của người vũ sĩ. Anh
Sôemon giữ lời hẹn cúc hoa mà xả thân, hồn đi trăm dặm tìm về, coi chữ
tín nặng nhường nào. Còn ngài, để làm đẹp lòng Amako, đã hành hạ cả cốt
nhục để người ấy phải sát thân, quả không xứng đáng là một chiến hữu.
Tsunehisa dù có ngăn chận thế nào đi nữa, ngài há không vì chút tình cố
cựu mà ngầm giúp như Công Thúc Tọa đã đối xử với Thương Ưởng được hay
sao? Chỉ lo sự phú quí cho riêng mình đâu phải là nền nếp vũ gia, có
chăng chỉ là cách sống của bọn Amako mà thôi. Không hiểu sao anh ta lại
không biết thế mà còn đưa chân đến chốn nầy làm gì? Ta hôm nay có mặt ở
đây cũng vì đặt lòng trung nghĩa lên trên mọi sự. Còn mi, mi sẽ chuốc
lấy cái tiếng bất nghĩa thối tha".
Nói chưa hết lời đã tuốt kiếm chém Tanji (9)
một nhát chết lăn tại chỗ. Thừa lúc bọn cận vệ còn đang nháo nhác bèn
trốn đi không để lại dấu vết. Amako Tsunehisa nghe việc đó, thầm phục
lòng trung tín của hai anh em, không hạ lệnh đuổi bắt Samon.
Ôi, chính vì thế mà ở đời, không nên kết giao với hạng người khinh bạc.
Dịch xong ngày 21 tháng 10 năm 2003
Nguyễn Nam Trân
(1) - Xóm Sonezaki, nơi Ueda Akinari chào đời là bối cảnh nhiều tiểu thuyết của Ibara Saikaku (1642-1693) và tuồng hát của Chikamatsu Monzaemon (1653-1724), hai nhân vật kiệt xuất của văn học Nhật Bản tiền cận đại và bậc thầy của Akinari.
(2) - Ngoài biệt hiệu nầy, ông còn đặt nhiều bút hiệu có tính chất tự trào như Wayaku Tarô (người dịch ra văn Nhật), Muchô Kọji (người ngang như cua) hoặc Shiki Kọjin (kẻ học đòi khoác lác).
(3) - Tiêu biểu có Kôda Rôhan và Higuchi Ichiyô, hai nhà văn tên tuổi thời Meiji, Akutagawa Ryunosuke và Satô Haruo thời Taishô, ngoài ra còn kể đến Izumi Kyôka, Hayashi Fumiko, Okamoto Kanoko, Ishikawa Jun vv�
(4) - La Quán Trung tên thật là La Bản (?-?), sống vào thế kỷ 14, cuối Nguyên đầu Minh, tác giả các tiểu thuyết bạch thoại như Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tùy Đường Lưỡng Triều Sử Truyện, Đường Ngũ Đại Sử Diễn Nghĩa, Bắc Tống Tam Toại Bình Yêu Truyện., Thủy Hử Truyện. Nhiều thuyết cho rằng Thủy Hử là tác phẩm của Thi An (tự Nại Am), người được xem như thầy của họ La.
(5) - Phùng Mộng Long (1574-1646), sinh năm Vạn Lịch đời Minh và mất năm Thuận Trị đời Thanh, tác giả các tập đoản thiên tiểu thuyết bạch thoại Cổ Kim Tiểu Thuyết, Tình Sử Loại Lược, Cổ Kim Tiếu, Tỉnh Thế Hằng Ngôn, Dụ Thế Minh Ngôn, Cảnh Thế Thông Ngôn.
(6) - Truyện chàng Phạm Cự Khanh từ cõi chết về dự bửa cơm thịt gà với người sống
(7) - Mạnh mẫu, mẹ thầy Mạnh Kha, từng chặt đứt khung cửi (đoạn cơ) và dọn nhà ba lần để cảnh tỉnh con (tam thiên chi giáo).
(8) - Xem truyện Thương Ưởng trong Sử Ký Tư Mã Thiên.
(9) - René Sieffert cho rằng chữ trung Nhật Bản cũng có giới hạn vì người đáng bị chém phải là Amako Tsunehisa chứ không phải Tanji, một kẻ chấp hành.

作詞: Nao'ymt
作曲: Nao'ymt
Download
- o -
Can you remember that?I remember... 信号待ち見かけた見覚えのある青いT-Shirts (I remember that)
変わらない笑顔流れた時はちょうど3 years (Time goes by)声かけようとその隣に見知らぬ誰かふと反らした目に映る空はいつもと同じで きっとこうして人はちょっとずつ過ぎた季節に記憶を隠すいつか零れた涙集まって陽を浴びて輝くまで そうだからBaby悲しまないで
考えても分かんない時もあるって散々でも前に続く道のどこかに望みはあるから雨の朝でも(Baby don't cry)
愛が消えそうでも(Baby don't cry)
一人になんてしないから(Baby don't cry)
Baby don't cryAlways stay by your side 眠れない夜は何度も寝返りばかり心細くなって吐き出すため息は深い(Yeah I know)
また抱えた不安これ以上解消出来ず誰かの手握って見えない明日へ繋ごうと努力して だってそうして人は何度でも闇に立ち向かう強さあるはず与えられて選ぶんじゃなくてその足で 踏み出して
そうだからBaby悲しまないで
考えても分かんない時もあるって散々でも前に続く道のどこかに望みはあるから雨の朝でも(Baby don't cry)
愛が消えそうでも(Baby don't cry)
一人になんてしないから(Baby don't cry)
Baby don't cryAlways stay by your side 鏡に映る自分が(When I lose myself)
まるで別人みたいな日もあるけど(When I need someone's help)諦めないでLet me see your smile
ねえ 良くなる方に捉えたら?
いつか笑って話せる日がくるから(Don't cry, cry...) さあだからBabyその手伸ばして
雲間に覗く陽射しを信じて心配事なんて 全部取り除くから
これでもう大丈夫遠い朝でも(Baby don't cry)
愛をなくしても(Baby don't cry)
一人になんてしないから(Baby don't cry)
Baby don't cryAlways stay by your side Baby もうDon't cry (Baby don't cry yeah)
It's gon' be alright (It's gon' be alright)Baby もうDon't cry (Baby もうDon't cry)
You'll see the sunshine (See the sunshine)Baby もうどのくらい(Baby don't baby don't cry)
一人でyou've been tryin'
(一人でyou've been tryin')
Baby もうDon't cry (Baby もうDon't cry)
You'll see the sunshine (You'll see the sunshine)
:: Romaji :: 
Can you remember that?I remember... Shingou machi mikaketamioboe no aru aoi T-Shirts (I remember that)kawaranai egao nagareta toki wachoudo 3 years (Time goes by)koe kakeyou to sono tonari ni mishiranu darekafuto sorashita me ni utsuru sora wa itsumo to onaji de Kitto koushite hito wa chotto zutsusugita kisetsu ni kioku wo kakusuitsuka koboreta namida atsumattehi wo abite kagayaku made * Sou dakara Baby kanashimanaidekangaetemo wakannai toki mo aru ttesanzan demo mae ni tsuzuku michi no dokoka ninozomi wa aru karaame no asa demo (Baby don't cry)ai ga kiesou demo (Baby don't cry)hitori ni nante shinai kara (Baby don't cry)Baby don't cryAlways stay by your side Nemurenai yoru wa nando mo negaeri bakarikokoro hosoku nattehakidasu tameiki wa fukai (Yeah I know)mata kakaeta fuan kore ijou kaishou dekizudareka no te nigittemienai asu e tsunagou to doryoku shite Datte soushite hito wa nando demoyami ni tachimukau tsuyosa aru hazuataerarete erabu n' ja nakutesono ashi de fumidashite * Sou dakara Baby kanashimanaidekangaetemo wakannai toki mo aru ttesanzan demo mae ni tsuzuku michi no dokoka ninozomi wa aru karaame no asa demo (Baby don't cry)ai ga kiesou demo (Baby don't cry)hitori ni nante shinai kara (Baby don't cry)Baby don't cryAlways stay by your side Kagami ni utsuru jibun ga (When I lose myself)marude betsujin mitai na hi mo aru kedo(When I need someone's help)akiramenaide Let me see your smilenee yoku naru hou ni toraetara?itsuka waratte hanaseru hi ga kuru(Don't cry, cry...) Saa dakara Baby sono te nobashitekumoma ni nozoku hizashi wo shinjiteshinpai goto nante zenbu torinozoku karakore de mou daijoubutooi asa demo (Baby don't cry)ai wo nakushitemo (Baby don't cry)hitori ni nante shinai kara (Baby don't cry)Baby don't cryAlways stay by your side Baby mou Don't cry (Baby don't cry yeah)It's gon' be alright (It's gon' be alright)Baby mou Don't cry (Baby mou Don't cry)You'll see the sunshine (See the sunshine)Baby mou dono kurai (Baby don't baby don't cry)hitori de you've been tryin'(hitori de you've been tryin')Baby mou Don't cry (Baby mou Don't cry)You'll see the sunshine (You'll see the sunshine)
...
- 0 -
Yami no matsuei – Baby don’t cry

...
Tôi là một thằng hèn
Tôi nói điều này dù biết Tsuzuki sẽ phủ nhận nó
Chỉ là một thằng hèn.
Vì tôi chỉ là một thằng hèn
Đó là lý do tôi giết Tsubaki
Đó là lý do tôi chạy trốn Tsubaki.
Cuối cùng, chúng ta vẫn không thể hiểu nhau
Tôi đã không thay đổi được trái tim cô ấy
Vì tôi không muốn đối mặt với Muraki trong tim cô
Vì tôi sợ phải đánh nhau với Muraki trong tim cô
Và vì tôi biết trước rằng mình sẽ thua
Vì thế tôi giết cô
Để kết thúc tất cả.
- Kurosaki Hisoka -
...

- o -
Yami no matsuei – King of Swords
- Matsushita Youko -

Amethyst remembrance (AMEJISUTO iro no omoi de)
From: Densetsu no Yuusha Da Garn
Lyrics: Yamada Hiroshi
Composer: Inoue Norio
- o -
I held a Jewel in my fingers
And went to sleep
The day was warm,
Ah winds, winds were prosy
I said, I said "Twill keep"
I held a Jewel in my fingers
And went to sleep
The day was warm,
Ah winds, winds were prosy
I said, I said "Twill keep"
I woke - and chid my fingers,
The Gem was gone in my hands
And now,
an Amethyst remembrance
Is all I own
Go from me!
Yet I feel that I shall stand
Henceforward in thy shadow,
God From Me!
Go from me!
Yet I feel that I shall stand
Henceforward in thy shadow,
God From Me!
- o -
Download
http://www.savefile.com/files/1470475
citation : Emily Dickinson [I Held a Jewel in my Fingers]

- Matsushita Youko -
Nguyên tác : Akutagawa Ryunosuke
Người dịch : Nguyễn Nam Trân
Trích từ "Trinh tiết - tuyển tập truyện ngắn Akutagawa"
thuộc Nhà xuất bản Văn học
Lời Người Dịch:
Lần đầu tiên người dịch được đọc Hankechi bằng tiếng Việt là khoảng năm 1963 ở Sài Gòn dưới cái tựa "Chiếc Khăn Tay" nhưng không nhớ tên dịch giả. Năm 1972, người dịch đã thử dịch từ bản tiếng Nhật và đăng trên một nội san sinh viên ở Paris. Sau vài lần dọn nhà, bản đó cũng mất. Bản dưới đây dịch lại từ nguyên tác đăng trong Văn Học Nhật Bản Toàn Tập (A Treasury of Japanese Literature) của nhà Chuo - Koron (1964), tập 29 nói về Akutagawa. Trong khi dịch, đã tham khảo bản tiếng Pháp do giáo sư Mori Arimasa (Le Mouchoir, in Rashômon et autres contes, Gallimard, Unesco, Paris, 1965).
Vũ sĩ đạo (Bushido, hay võ sĩ đạo) là một quy phạm đạo đức của giới
quân nhân hình thành cuối thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XII từ cuộc chiến
tranh giữa hai họ Taira và Minamoto thời trung cổ Nhật Bản, phát triển
với mạc phủ Kamakura (1185-1333). Đến thời Tokugawa (1600-1868), nó kết
hợp với tư tưởng Nho Giáo và trở thành một định chế chặt chẽ nhằm củng
cố chế độ phong kiến. Trung thành, hy sinh, tín nghĩa, liêm sỉ, giữ lễ,
kiệm ước, đơn sơ, trong sạch, trọng danh dự, yêu vũ nghệ, không sợ
chết... là những đức tính cần thiết của người vũ sĩ được nhắc trong
Hagakure (Diệp Ân, 1716), tác phẩm có tính cách kinh điển của vũ sĩ đạo
do đệ tử của Yamamoto Jocho (Sơn Bản Thường Triều, 1659-1719) chép lại
lời thầy giảng.Từ nhiều thế kỷ, dù đúng hay sai, vũ sĩ đạo được nhiều
người coi như đồng nghĩa với lối sống Nhật Bản.
"Chiếc mùi-soa" là tác phẩm tiêu biểu của Akutagawa Ryuunosuke, trong
đó, ông đặt lại vấn đề giá trị đích thực của vũ sĩ đạo từ một câu
chuyện giản dị.
...
Ngả lưng trên chiếc ghế mây dưới hàng hiên, Hasegawa Kinzô (1), giáo sư luật khoa Đại Học Đế Quốc Đông Kinh (2), đang đọc quyển Nghệ Thuật Viết Kịch (3) của Strindberg.
Lãnh vực nghiên cứu chuyên môn của giáo sư là chính sách thuộc địa nên
chắc độc giả không khỏi chưng hửng khi thấy tả ông ta đang đọc quyển
sách về thuật viết kịch. Tuy nhiên, giáo sư vừa có tiếng là một học giả
kiêm nhà giáo dục nên sách vở dẫu không liên quan tới phạm vi nghiên
cứu của mình, miễn nó ảnh hưởng đến lề lối suy nghĩ và tình cảm của đám
sinh viên là giáo sư muốn liếc qua một lần cho biết. Dạo nầy, chỗ
trường Cao Đẳng Chuyên Khoa nơi giáo sư vừa nhậm chức hiệu trưởng, đám
sinh viên đang mê đọc Từ Hố Thẳm (4) và Ý Hướng Nghệ Thuật (5) của
Oscar Wilde (6). Chừng đó lý do cũng đủ làm giáo sư bỏ công ra đọc mấy
cuốn trên.
Tính giáo sư thế đấy nên bây giờ có kể là sách ông đang cầm đọc vốn trình bày về các vở tuồng và diễn viên làng kịch Âu Châu cận đại thì chẳng có gì khiến ta phải lạ lùng. Nếu muốn rõ nguồn cơn thì xin thưa trong đám học trò giáo sư đào tạo, ngoài những cậu viết khảo luận về Ibsen (7), Strindberg hay Maeterlinck còn có cả nhiều cậu hăm hở theo dấu các nhà soạn kịch cận đại để sinh sống bằng nghề viết kịch nữa kia.
Cứ mỗi lần đọc xong một chương thấm thía, giáo sư lại để quyển sách bìa
bọc vải màu vàng lên trên đùi, lơ đãng đưa mắt về phía chiếc lồng đèn
Gifu (8) treo dưới mái hiên. Lạ cái là mỗi lần như thế, dòng suy nghĩ
của giáo sư bỗng rời khỏi Strindberg lúc nào không biết. Thay vào đó,
hình ảnh bà vợ, người đã cùng ông đi mua chiếc lồng đèn, lại hiện ra
trong trí. Ông kết hôn trong thời gian du học Hoa Kỳ và dĩ nhiên ( 9 )
bà nhà là người Mỹ.
Thế nhưng tình yêu đối với đất nước và con người Nhật Bản của bà chẳng thua gì kém chồng. Đặc biệt bà hết sức yêu thích đồ mỹ nghệ khéo léo của người Nhật. Do đó, chiếc lồng đèn Gifu treo dưới hiên nhà chính ra thể hiện sở thích cá nhân bà giáo chứ không phải khiếu thẩm mỹ của giáo sư Hasegawa.
Mỗi lần đặt sách xuống, dòng suy tưởng của giáo sư hết hướng về người vợ, về chiếc lồng đèn Gifu, rồi đến nền văn minh Nhật Bản tiêu biểu bằng chiếc lồng đèn nầy. Theo chổ ông nhận xét, trong vòng năm mươi năm nay, văn minh Nhật Bản đã có những bước tiến rõ rệt về phương diện vật chất. Thế nhưng về mặt tinh thần mà nói, hầu như không có tiến bộ nào đáng kể. Chẳng những thế, ở một ý nghĩa nào đó, nó còn tụt dốc nữa. Thế thì nhiệm vụ của nhà tư tưởng thời nay là phải tìm cách chỉ bảo đường lối thế nào giúp cho Nhật Bản thoát khỏi nguy cơ tuột dốc. Theo ông nhận định, không có cách gì khác hơn là dựa vào vũ sĩ đạo, một truyền thống lâu đời. Không nên xem vũ sĩ đạo như một thứ đạo đức hẹp hòi và cứng nhắc của một giống dân ở đảo.
Ngược lại, trong vũ sĩ đạo đã có những giá trị giống y tinh thần Cơ Đốc Giáo của các quốc gia Âu Mỹ. Nếu làm mọi người chấp nhận được là với vũ sĩ đạo, có thể chấn chỉnh lại trào lưu tư tưởng Nhật Bản hiện đại thì coi như đã cống hiến lớn lao cho văn minh tinh thần của Nhật Bản rồi. Nhân đó tiến xa hơn mà giúp sự giao cảm giữa người Nhật và dân tộc các quốc gia Âu Mỹ thêm dễ dàng, chưa nói đến lợi ích đóng góp cho hòa bình thế giới.
Điều này phù hợp với ước mơ đóng vai trò chiếc cầu nối hai bờ Đông Tây mà từ lâu giáo sư vẫn thường ôm ấp. Suy nghĩ đến đó, giáo sư không khỏi cảm thấy dễ chịu khi nhận ra có một sự cân đối hài hòa giữa ba yếu tố: bà vợ, chiếc lồng đèn Gifu và nền văn minh Nhật Bản tượng trưng bằng chiếc lồng đèn ấy.
Sự
sung sướng mà giáo sư cảm nhận cứ trở về liên hồi làm ông tuy tiếp tục
đọc sách mà chợt thấy tâm trí mình đã lãng đãng rời khỏi Strindberg.
Ông bực bội lắc đầu và lại chăm chú cúi xuống dán mắt vào những hàng
chữ li ti. Vừa vặn lúc đó, đoạn ông đọc tới có viết như thế nầy:
"Khi diễn viên tìm ra được một kỹ thuật diễn xuất thích hợp để diễn tả một tình cảm thường thức nào đó và thành công với lối diễn xuất ấy rồi, họ có thói quen cứ dùng đi dùng lại bất kể trong tình huống nào, có khi vì chuộng sự dễ dãi, có khi vì thành công nó đem đến. Đó là cái mà người ta gọi là " kiểu cọ (10)"...
Xưa nay, giáo sư vốn không phải là người rành rẽ về nghệ thuật. Kịch đối với ông như đàn gảy tai trâu. Ngay cả sân khấu truyền thống, từng tuổi nầy mà ông đã đi xem mấy lần đâu! Có lần một cậu sinh viên, khi viết tiểu thuyết, nhắc đến cái tên Baikô. Một người tự phụ học rộng nhớ dai như giáo sư mà cũng chịu, không biết nhân vật nầy là ai. Sau đó, giáo sư có dịp gọi anh chàng sinh viên ấy đến hỏi :
-Nầy em, Baiko là ai vậy ?
-Thưa thầy, Baiko (11) à ? Ông nầy là kép thường trực của rạp kịch Đế Quốc khu Marunouchi, hiện đóng vai Misao trong hồi thứ mười vở Taikoki (12) đấy ạ.
Anh học trò, mặc cái hakama (có sọc) của vùng Kokura kính cẩn trả lời thầy.
Do sự kém hiểu biết đó, giáo sư không thể có ý kiến gì về các loại kỹ
thuật diễn xuất mà Strindberg đã phẩm bình với một ngòi bút sắc cạnh.
Nó chỉ đem đến cho giáo sư chút đỉnh thích thú trong phạm vi những vở
kịch mà ông nhớ đã được xem ở phương Tây thời còn du học. Nói cách
khác, trường hợp của giáo sư không khác chút nào cảnh một như ông thầy
Anh Văn bậc trung học, nhân vì đi kiếm vài thành ngữ mà bắt buộc phải
đọc kịch bản của Bernard Shaw (13) . Tuy cái ích lợi quyển sách đem đến
không phải thứ ông muốn tìm nhưng dù sao nó cũng là một thứ ích lợi.
Chiếc lồng đèn Gifu treo lửng trên trần hàng hiên vẫn chưa ai thắp. Và trên chiếc ghế mây, giáo sư Hasegawa Kinzô nhà ta vẫn đang xem giở cuốn " Thuật Viết Kịch " của Strindberg. Người viết chỉ cần tả như vậy thiết tưởng cũng đủ giúp độc giả hình dung một cách dễ dàng đó là một buổi xế trưa đầu hạ ngày còn dài lê thê.
Tuy
nhiên khi nói thế, tác giả không có ý bảo giáo sư chán ngán cái gì đâu.
Nếu có vị nào giải thích kiểu đó là cố ý đem ý nghĩa câu văn của tác
giả bóp méo để mỉa mai đấy.
Và bây giờ, cho dù là Strindberg đi
nữa, giáo sư cũng đành cho rơi nửa chừng. Tại sao ấy à, vì cô bé giúp
việc vào báo có khách đến thăm làm giáo sư chợt mất đi cái hứng thanh
tao. Cho dù ngày có dài đến đâu, coi bộ người đời không tìm đến quấy
quả giáo sư là họ không chịu được hay sao ấy!
Giáo sư đặt quyển sách xuống, cầm tấm danh thiếp cô bé giúp việc vừa mới đưa vào, liếc qua một lượt. Tấm thiệp mầu ngà có ghi mấy chữ Nishiyama Atsuko xinh xắn. Thật tình giáo sư không nhớ đã gặp người mang tên nầy bao giờ cả.Vừa đứng dậy khỏi cái ghế dựa bằng mây, con người giao thiệp rộng như giáo sư đã thử soát lại cuốn sổ trong đầu ghi tên tuổi tất cả những người quen biết một lần cho chắc. Thôi chịu, không có khuôn mặt nào trùng hợp với cái tên ấy.
Giáo sư bèn xen tấm danh thiếp vào giữa quyển sách thay cho thẻ đánh dấu trang, đặt quyển sách lên trên chiếc ghế mây, xong, với thái độ hơi bồn chồn, ông vừa sửa lại tấm áo bằng tơ Meisen mặc trên người cho ngay ngắn, vừa thoáng ngước nhìn lần nữa chiếc lồng đèn Gifu treo ngang tầm mắt. Thói thường, trong trường hợp như thế nầy, kẻ nôn nóng không phải là người khách bị bắt chờ mà là chủ nhân bắt khách phải chờ. Huống chi giáo sư là người xưa nay vẫn hết sức cung kính đối với khách dầu lạ hay quen, nên ông không thể lấy cớ người đàn bà hôm nay không quen mà cố ý làm khác đi cho được.
Xem chừng giờ, giáo sư mở cửa phòng khách. Khi tay ông vừa buông khỏi nắm đấm cửa thì hầu như cùng một lúc, khách, một người đàn bà tuổi trạc bốn mươi đang ngồi trên ghế bỗng bật dậy. Khách mặc một chiếc kimono lụa xám ánh lục thật sang trọng mà phẩm chất vượt ngoài cả tầm hiểu biết của giáo sư. Ở chỗ khép lơi lơi trước ngực áo haori choàng ngoài bằng sa
